Máy nghiền đá phòng thí nghiệm: chuẩn bị mẫu 80 - 200 mesh
Máy nghiền đĩa phòng thí nghiệm đưa mẫu đá, quặng về 80 - 200 mesh, cấp liệu dưới 10 mm, 1,1 - 4 kW, kín bụi, không…
Xem chi tiếtNguyên lý hoạt động của máy nghiền đá kiểu con lăn đứng dựa trên nén lớp đệm: vật liệu được ép giữa con lăn và mâm quay tạo thành một lớp đệm, hạt bị phá vỡ do nén và cắt giữa các hạt với nhau chứ không phải do va đập. Hiểu đúng cơ chế này sẽ giải thích được vì sao dòng máy tiết kiệm điện và nuốt được nguyên liệu ẩm.

Máy nghiền con lăn đứng gồm bốn khối chức năng: hệ cấp liệu, mâm nghiền quay, cụm con lăn có gia tải thủy lực và bộ phân ly ở đỉnh. Vật liệu đi từ tâm ra mép mâm, bị con lăn chèn ép, sau đó hạt mịn được luồng khí nâng lên phân ly, hạt thô rơi trở lại mâm. Cả quá trình nghiền, sấy và phân loại diễn ra trong cùng một vỏ máy.
Khác với máy bi dùng bi thép va đập, máy con lăn đứng tận dụng chính lớp vật liệu làm môi trường truyền lực. Cách nghiền này giảm năng lượng thất thoát thành nhiệt và tiếng ồn, đồng thời cho phép nguyên liệu ẩm đi qua mà không dính vào bi và tấm lót.
| Giai đoạn | Cơ chế | Thông số điều chỉnh | Ảnh hưởng |
|---|---|---|---|
| Cấp liệu | Rải đều xuống tâm mâm | Lưu lượng băng tải | Ổn định chiều dày lớp đệm |
| Nén nghiền | Ép giữa con lăn và mâm | Áp lực thủy lực, chiều cao vành giữ liệu | Độ mịn thô và công suất động cơ |
| Nâng hạt | Khí nóng ở vành gió | Tốc độ quạt, nhiệt độ khí | Khả năng sấy và năng lực vận chuyển |
| Phân ly | Rotor cánh quay chọn hạt | Tốc độ bộ phân ly | Độ mịn và biên hạt thành phẩm |
Các dòng máy nghiền đứng LM và siêu mịn LUM đều vận hành theo nguyên lý này, khác nhau ở số con lăn, kích thước mâm và cấp độ phân ly. Với nhu cầu phân bố hạt rất hẹp, bộ phân ly nhiều đầu của LUM cắt biên hạt sắc hơn, phù hợp sản phẩm siêu mịn. Với dây phổ thông, máy châu Âu MTW dùng cụm con lăn hình thang và đường gió cong để giảm đọng liệu.
Ba điểm cần lưu khi vận hành: giữ tốc độ mâm ổn định để không phá lớp đệm, theo dõi chênh áp qua phân ly để phát hiện bít lọc, và kiểm tra nhiệt độ ổ trục con lăn vì dầu bôi trơn suy giảm sẽ làm tăng rung. Hệ PLC nên liên động giữa tải động cơ chính, áp lực thủy lực và lưu lượng gió để tự ổn định khi chất liệu thay đổi.
Máy đứng nghiền bằng nén lớp đệm nên phần lớn năng lượng đi vào việc phá vỡ vật liệu, ít sinh nhiệt và tiếng ồn như bi thép va đập. Bộ phân ly tích hợp giúp loại bỏ công đoạn nâng và phân loại ngoài, nhờ đó tiết kiệm 30 - 50% điện năng trên cùng độ mịn.
Vành giữ liệu quyết định chiều dày lớp vật liệu trên mâm. Chiều dày lớp đệm thường 40 - 60 mm, vành giữ liệu nên cao gấp 2 - 4 lần, tức khoảng 80 - 240 mm. Vành quá thấp làm lớp mỏng, tăng rung và mài mòn; vành quá cao gây quá tải động cơ.
Chủ yếu qua tốc độ bộ phân ly: quay nhanh thì hạt bị cắt nhỏ hơn và bột mịn hơn, quay chậm thì sản phẩm thô hơn. Ngoài ra có thể thay đổi lưu lượng gió và áp lực con lăn, nhưng tốc độ phân ly là thông số chỉnh tinh chính.
Được. Khí nóng dẫn qua vành gió vừa nâng hạt vừa sấy, nên máy đứng xử lý được nguyên liệu ẩm tới khoảng 15% mà không cần thiết bị sấy riêng. Đây là ưu thế rõ rệt so với máy bi vốn nghẽn khi độ ẩm vượt 2%.