Tính toán thiết kế máy nghiền đá hai cối: công thức cốt lõi
Công thức tính toán thiết kế máy nghiền hai cối: đường kính cối, tốc độ quay và tốc độ tới hạn, áp lực nghiền, công…
Xem chi tiếtMô phỏng dây chuyền nghiền bột đá là phương pháp dùng mô hình toán để dự báo phân bố cỡ hạt, tải tuần hoàn và điện năng riêng của một dây nghiền trước khi mua thiết bị. Thay vì thử máy đắt tiền rồi hiệu chỉnh, người làm kỹ thuật số hóa đá mỏ, mô hình hóa buồng nghiền và bộ phân ly, rồi tìm điểm vận hành cho ra sản phẩm đúng cỡ với chi phí thấp nhất.

Nghiền là khâu ngốn điện nhất trong chế biến khoáng sản, chiếm phần lớn chi phí vận hành của một trạm bột đá. Muốn mô phỏng cho ra số dùng được, trước hết phải mô tả đúng vật liệu: độ cứng, độ mài mòn, mật độ, độ xốp và phân bố cỡ hạt đầu vào. Đá vôi có chỉ số Bond điển hình 10 - 13 kWh/t, thấp hơn clanhke hay thạch anh, nhưng đá lẫn silic tự do sẽ đẩy chỉ số này lên và kéo theo điện năng tăng.
Đầu vào của mô hình không phải một cỡ hạt duy nhất mà là cả một dải. Người ta chia vật liệu thành n lớp cỡ từ vài milimét xuống vài chục micrômét rồi theo dõi khối lượng trong từng lớp. Chính cách chia lớp này quyết định độ chính xác: quá ít lớp thì mô hình thô, quá nhiều lớp thì thời gian tính tăng mà độ hội tụ không cải thiện đáng kể.
Với vật liệu rất cứng, mô hình cân bằng dân số còn phản ánh hiện tượng hạt quá lớn bị nghiền chậm bất thường: tồn tại một cỡ tối ưu có tốc độ vỡ lớn nhất, trên cỡ đó tốc độ giảm mạnh. Bỏ qua hiệu ứng này, kết quả dự báo thường lạc quan hơn thực tế ở vùng hạt thô.
| Hạng mục | Đơn vị | Giá trị thường dùng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Cỡ hạt đầu vào F80 | mm | 15 - 40 | Sau đập hai cấp |
| Cỡ hạt sản phẩm P80 | µm | 44 - 180 | Tương ứng 80 - 325 mesh |
| Chỉ số Bond | kWh/t | 10 - 14 | Đá vôi sạch tới lẫn silic |
| Điểm cắt d50 bộ phân ly | µm | 30 - 90 | Chỉnh theo tốc độ rotor |
| Tải tuần hoàn | % | 150 - 350 | Cao quá thì điện năng tăng |
Kết quả mô phỏng dẫn thẳng tới chọn máy. Nếu P80 mục tiêu là 44 µm cho khử lưu huỳnh và tải tuần hoàn dự báo trên 300%, nên chọn máy nghiền đứng LM vì bộ phân ly rotor cho điểm cắt sắc, ít nghiền lặp. Nếu dải sản phẩm rộng 80 - 325 mesh và công suất vừa, máy châu Âu MTW với bộ phân ly chỉnh bằng biến tần cho phép đổi cỡ nhanh mà không phải thay linh kiện. Với sản phẩm siêu mịn dưới 20 µm, mô hình thường chỉ ra rằng nên tách riêng một dây LUM hoặc SCM thay vì ép máy chính chạy quá mịn.
Ba chỉ số cần theo dõi khi đối chiếu mô hình với vận hành thực: phân bố cỡ hạt sản phẩm, tải tuần hoàn và điện năng riêng. Chênh lệch lớn ở tải tuần hoàn thường do lưu lượng gió chưa khớp; chênh ở độ mịn thường do tốc độ bộ phân ly; chênh ở điện năng thường do áp lực nghiền hoặc lớp vật liệu trên mâm quá dày.
Ba thứ dùng được ngay: phân bố cỡ hạt sản phẩm, tải tuần hoàn trong mạch kín và điện năng riêng trên mỗi tấn. Có ba số này mới biết cỡ máy, tốc độ bộ phân ly và công suất quạt phù hợp, tránh mua máy thừa hoặc thiếu.
Chỉ số Bond biểu diễn độ khó nghiền của vật liệu, đơn vị kWh/t. Từ chỉ số này và cỡ hạt đầu vào F80, cỡ hạt sản phẩm P80, công thức năng lượng cho ra điện năng riêng cần thiết, làm cơ sở chọn mô tơ chính và dự toán chi phí điện.
Rosin-Rammler dùng hai tham số: cỡ hạt đặc trưng và độ đồng đều để biểu diễn lượng hạt lọt sàng theo cỡ. Một tham số dàn trải rộng cho biết sản phẩm nhiều hạt quá mịn và hạt thô lẫn nhau, tức bộ phân ly chưa đủ sắc.
Không. Mô phỏng phải hiệu chỉnh bằng số liệu thử nghiền mẫu thực tế. Cách làm chuẩn là lấy mẫu đá của mỏ, chạy thử ở nhiều thời gian nghiền, đo phân bố cỡ hạt rồi khớp tham số mô hình, sau đó mới dùng mô hình để ngoại suy cho cỡ máy lớn hơn.