Máy nghiền đá granit thủ công kiểu chakki và bài toán đá cứng
Máy nghiền đá granit thủ công kiểu chakki dùng hai đĩa đá quay chậm; phân tích độ cứng 6 - 7 Mohs, độ mài mòn lớn và…
Xem chi tiếtMáy đập đá và máy nghiền đá cùng làm việc giảm cỡ hạt nhưng ở hai giai đoạn hoàn toàn khác nhau. Máy đập phá khối đá lớn thành hạt cỡ centimét, còn máy nghiền biến hạt nhỏ thành bột cỡ micromét. Hiểu đúng ranh giới giữa hai thiết bị là điều kiện để thiết kế dây vừa đủ công suất mà không lãng phí điện.

Máy đập đá làm việc ở giai đoạn thô và trung, dùng lực nén, va đập hoặc cắt để phá vỡ khối đá. Máy đập hàm ép vật liệu giữa má hàm cố định và má hàm động, phù hợp với đá cứng. Máy đập côn ép vật liệu giữa nón nghiền và thành côn, dùng cho cấp hai và cấp ba. Máy đập va đập dùng rôto tốc độ cao để bắn vỡ vật liệu, cho sản phẩm có hình dạng đều cạnh hơn nhưng nhạy với đá mài mòn cao.
Máy nghiền đá làm việc ở giai đoạn cuối, dùng lực ép và chà xát để đưa vật liệu về cỡ bột. Máy kiểu Raymond và máy nghiền châu Âu dùng con lăn lăn trên vành nghiền cố định. Máy nghiền đứng dùng con lăn ép trên bàn nghiền quay, kết hợp sấy ngay trong buồng nghiền. Máy nghiền siêu mịn dùng nhiều tầng con lăn và bộ phân loại cánh quay để đạt cỡ hạt nhỏ dưới 10 µm.
Cỡ hạt vào của hai nhóm chênh nhau cả chục lần. Máy đập hàm cỡ lớn nhận đá tới 900 mm, còn máy nghiền chỉ nhận 15 tới 50 mm tùy model. Về đầu ra, máy đập cho hạt từ 10 tới 90 mm, còn máy nghiền cho bột dưới 0,074 mm với dòng thô và xuống tới vài micromet với dòng siêu mịn.
Về năng lượng, xu hướng rất rõ: tỷ lệ giảm cỡ càng lớn thì điện năng riêng càng tăng theo cấp số nhân. Đập từ 900 mm xuống 40 mm tốn ít điện hơn nhiều so với nghiền từ 40 mm xuống 0,05 mm. Chính vì vậy nguyên tắc nghề nghiệp là đập kỹ để nghiền nhẹ: đưa đá vào máy nghiền càng nhỏ và càng đều thì tổng điện năng của cả dây càng thấp.
| Tiêu chí | Máy đập đá | Máy nghiền đá |
|---|---|---|
| Nhiệm vụ chính | Giảm khối lớn thành hạt | Nghiền hạt thành bột |
| Lực tác động | Nén, va đập, cắt | Ép và chà xát |
| Cỡ hạt vào | Đến 400 - 900 mm | 15 - 50 mm |
| Cỡ hạt ra | 10 - 90 mm | 0,06 - 0,4 mm và mịn hơn |
| Cỡ máy điển hình | Đập hàm, đập côn, đập va đập | MTM, MTW, LM, LUM, SCM |
| Sản phẩm đầu ra | Cốt liệu, cát nhân tạo | Bột khoáng, bột siêu mịn |
Ở đầu dây, máy đập cát trục VSI đảm nhiệm vai trò tạo hạt đều cạnh và làm cát nhân tạo trước khi vào tầng nghiền. Phần nghiền bột dùng máy nghiền châu Âu MTW cho dải phổ biến 80 tới 325 mesh, hoặc máy nghiền đứng LM khi dây lớn và cần sấy. Với trường hợp cần bột rất mịn, thêm máy nghiền siêu mịn SCM ở công đoạn cuối.
Điểm thường bị bỏ qua là hệ giám sát. Cảm biến rung phát hiện lệch trục và mòn ổ bi, cảm biến nhiệt theo dõi động cơ và hộp giảm tốc, còn đo tải và dòng điện giúp phát hiện nghiền non tải hoặc quá tải. Với dây có nhiều tầng thiết bị nối tiếp, khớp công suất giữa các tầng quan trọng hơn công suất riêng của từng máy: nếu máy nghiền nhỏ hơn máy đập thì bin chứa sẽ đầy liên tục và phải dừng dây.
Không. Máy đập chỉ hạ cỡ hạt xuống cỡ milimét, sản phẩm là hạt chứ không phải bột. Muốn ra bột mịn dưới 0,074 mm thì bắt buộc phải có công đoạn nghiền.
Vì nghiền là công đoạn tốn điện nhất trên mỗi tấn. Nếu đá vào máy nghiền đã nhỏ và đều, máy chạy ít tải hơn, năng suất tăng và điện năng riêng giảm rõ rệt.
Phụ thuộc model: máy kiểu Raymond nhận khoảng 15 đến 30 mm, máy nghiền châu Âu MTW nhận 30 đến 40 mm, máy nghiền đứng nhận tới 50 mm.
Dây chỉ đập cho cốt liệu 10 đến 90 mm dùng cho bê tông và đường. Dây đập kèm nghiền có thêm tầng nghiền và phân loại để ra bột khoáng, phục vụ xi măng, hóa chất và vật liệu độn.