Máy nghiền đá vôi Nam Phi: chọn thiết bị theo chi phí điện
Thị trường máy nghiền đá vôi Nam Phi ưu tiên tiết kiệm điện do cắt tải. So sánh máy đứng LM và máy châu Âu MTW theo…
Xem chi tiếtCối đá xay tay là hình ảnh quen thuộc ở nông thôn Philippines, nơi ngô và lúa được xay bằng hai phiến đá granite quay tay. Nhưng khi thị trường cần bột đá vôi làm vôi cải tạo đất chua, phụ gia thức ăn chăn nuôi hay chất độn công nghiệp, cách xay tay dừng lại ở quy mô gia đình. Bài viết đi từ cấu tạo cối đá truyền thống tới cấu hình dây nghiền điện cỡ nhỏ, phù hợp với hợp tác xã và doanh nghiệp ở các tỉnh như Cebu, Bohol hay Quezon.

Cối đá truyền thống của Philippines, gọi là ligsanan hay galingan sa batu, gồm hai phiến đá tròn xếp trên nhau, phiến trên có lỗ nạp liệu và tay quay gỗ. Ngô hoặc gạo được rót vào lỗ rồi ép giữa hai mặt đá khi quay, hạt rơi ra dạng mảnh. Ưu điểm là giữ mùi vị nguyên liệu và không dùng điện; nhược điểm là năng suất rất thấp, chỉ vài chục đến vài trăm gam mỗi phút, phụ thuộc sức người và không kiểm soát được cỡ hạt.
Khi chuyển sang chế biến đá vôi, yêu cầu kỹ thuật khác hẳn. Đá vôi có độ cứng Mohs 3 - 4, dễ nghiền hơn ngô nhưng khối lượng riêng lớn và sinh bụi nhiều. Bột vôi cải tạo đất chua ở Philippines thường yêu cầu 80 - 100 mesh để phản ứng nhanh với đất; loại trộn vào thức ăn chăn nuôi hoặc tưới qua hệ thống cần mịn hơn, khoảng 150 - 200 mesh. Đá phải khô dưới 2 - 3% nước, nếu không mặt đá sẽ trơn trượt và bết.
Với hợp tác xã chỉ có liệu đã đập sẵn từ mỏ, có thể bỏ công đoạn đập và chỉ mua cụm nghiền cùng thiết bị thu bụi. Cách này giảm vốn và diện tích, đổi lại phụ thuộc liệu mua bên ngoài về cả cỡ hạt lẫn độ ẩm.
| Quy mô | Độ mịn | Thiết bị gợi ý | Công suất | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Hộ gia đình | Xay thô | Cối đá quay tay | 20 - 80 g/phút | Chỉ dùng cho mẫu nhỏ, không bán bao |
| Xưởng nhỏ | 80 - 100 mesh | MTM cỡ nhỏ | 0,5 - 1 t/h | Vôi nông nghiệp rải đất |
| Hợp tác xã | 100 - 200 mesh | MTM hoặc MTW nhỏ | 1 - 3 t/h | Phụ gia thức ăn, bột trát |
| Doanh nghiệp | 200 - 325 mesh | MTW | 3 - 8 t/h | Cần liệu ổn định, có sấy |
Một dây 1 t/h điển hình gồm đập hàm nhỏ, gầu nâng, phễu chứa, cấp liệu rung định lượng, máy nghiền MTM cỡ nhỏ với động cơ chính khoảng 37 kW, bộ phân ly chỉnh mesh, lốc thu bụi, lọc túi xung khí nén và tủ điện có bảo vệ quá dòng. Nếu nguyên liệu ẩm theo mùa, nên chọn phương án có đường khí nóng nhẹ để tránh dính buồng nghiền trong mùa mưa.
Ở quy mô này, sai số lớn nhất không nằm ở máy chính mà ở cấp liệu. Cấp liệu dao động làm độ mịn và điện năng dao động theo, khiến bao bột khi đạt khi không đạt chuẩn. Nên dùng cấp liệu rung có biến tần, kèm phễu chứa đủ lớn để tách dao động từ công đoạn đập.
Không cho sản xuất hàng hóa. Một cối đá granite chỉ đạt vài chục đến vài trăm gam mỗi phút, đủ cho hộ gia đình. Muốn bán bột vôi nông nghiệp theo bao thì phải chuyển sang máy điện cỡ nhỏ từ 0,5 t/h trở lên.
Đa số dùng 80 - 100 mesh để rải trực tiếp trên đất chua. Loại trộn vào thức ăn chăn nuôi hoặc bón qua hệ thống tưới cần 150 - 200 mesh để tan nhanh hơn.
Thường gồm đập hàm nhỏ đưa liệu về dưới 30 mm, máy nghiền kiểu Raymond MTM cỡ nhỏ khoảng 37 kW, bộ phân ly chỉnh theo mesh, lọc túi xung khí nén và tủ điện. Với liệu đã đập sẵn, có thể bỏ qua công đoạn đập để giảm chi phí.
Nên dùng đá vôi có CaCO₃ trên 90% và SiO₂ thấp, lấy từ các mỏ đá vôi dạng núi đá. Đá cuội ven biển thường lẫn tạp chất và muối, làm mòn mặt nghiền nhanh và giảm chất lượng bột.