Mua máy nghiền đá ở đâu: chọn kênh mua và kiểm tra thật kỹ
Mua máy nghiền đá ở đâu: so sánh xưởng chế tạo, đại lý hay máy đã qua sử dụng; các điểm cần kiểm tra, câu hỏi hợp…
Xem chi tiếtBột đá làm nhựa đường, còn gọi là bột khoáng, là chất độn mịn trộn cùng cốt liệu và nhựa bitum để lấp khe rỗng, tăng độ bám và giảm lượng nhựa cần dùng. Loại bột này không đòi hỏi siêu mịn như bột nhựa hay sơn, nhưng các chỉ tiêu về cấp phối hạt, độ ẩm và thành phần khoáng lại rất gắt vì chúng quyết định tuổi thọ mặt đường.

Trong hỗn hợp asphalt, bột khoáng đóng vai trò chất độn hoạt tính. Nó chen vào khe giữa các hạt cốt liệu lớn, làm hỗn hợp đặc hơn, giảm độ rỗng dư và tăng độ cứng của màng nhựa. Bề mặt đá vôi có tính bazơ nên bám dính tốt với bitum vốn hơi axit, nhờ đó mặt đường chịu nước và chịu mỏi tốt hơn. Đây cũng là lý do loại đá gốc silic như granite thường bị loại khi chọn nguyên liệu làm bột khoáng.
Bột khoáng không cần mịn tới vài micromet, nhưng phải có cấp phối rải đều trong dải quy định. Bột quá thô thì lấp không hết khe, bột quá mịn thì diện tích bề mặt riêng tăng mạnh, hút nhựa nhiều hơn và dễ vón trong silo. Vì vậy mục tiêu của dây nghiền là cấp phối ổn định chứ không phải độ mịn tối đa.
Các chỉ tiêu dưới đây là chuẩn thường gặp với bột khoáng cho trạm trộn nhựa đường. Con số có thể chênh theo tiêu chuẩn từng nước và loại mặt đường, nhưng tinh thần chung thì giống nhau: cấp phối đều, sạch và khô.
| Chỉ tiêu | Giá trị thường áp dụng | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Thành phần khoáng | CaCO₃ ≥ 90% | Bảo đảm tính bazơ, bám dính nhựa |
| Cấp phối hạt | 180 - 200 mesh, qua 0,075 mm 75 - 100% | Lấp khe rỗng, ổn định độ rỗng dư |
| Độ ẩm | ≤ 1% | Chống vón, chống bọt khí khi trộn nóng |
| Tạp sét | Chỉ số dẻo ≤ 4, giá trị MB thấp | Hạn chế trương nở và thấm nước |
| Diện tích bề mặt riêng | 2500 - 5000 cm²/g | Ảnh hưởng lượng nhựa cần dùng |
Điểm cần lưu ý là nhiệt độ nghiền. Máy kiểu Raymond thường chạy ở nhiệt độ dưới 90°C, đủ thấp để không làm biến đổi tính chất hóa học của bột. Với dây lớn dùng máy nghiền đứng, khí nóng dùng để sấy cũng phải điều chỉnh sao cho bột ra không quá nóng, vì bột nóng dễ hút ẩm khi gặp không khí ẩm lúc vào silo.
Với dây 3 - 25 t/h cấp bột cho một trạm trộn, máy châu Âu MTW hoặc máy kiểu Raymond MTM là lựa chọn kinh tế: dải 30 - 325 mesh điều chỉnh bằng biến tần rất thuận cho việc chuyển giữa bột 200 mesh và 325 mesh khi khách đổi yêu cầu. Suất tiêu thụ điện điển hình cho bột 325 mesh khoảng dưới 30 kWh/t; với 200 mesh thì thấp hơn đáng kể, nên đừng nghiền mịn hơn cần thiết vì sẽ đội tiền điện mà giá bán bột khoáng không tăng tương ứng.
Dây từ vài chục tấn mỗi giờ trở lên nên chuyển sang máy nghiền đứng LM: tích hợp nghiền, sấy và phân ly, chịu được liệu ẩm tới 10 - 15%, cụm con lăn lật ra ngoài khi thay và hai con lăn vẫn gánh được phần lớn năng suất trong lúc sửa một con. Phần phụ trợ gồm lọc túi xung khí nén giữ bụi dưới ngưỡng, quạt hút đủ cột áp, và hệ PLC liên động cấp liệu với nhiệt độ khí.
Phổ biến là 180 - 200 mesh. Yêu cầu cấp phối thường ghi: phần qua sàng 0,6 mm đạt 100%, qua 0,15 mm từ 90 - 100% và qua 0,075 mm từ 75 - 100%. Xuống quá thô thì khó lấp khe, quá mịn thì dễ vón và tăng nhu cầu nhựa.
Bề mặt đá vôi có tính bazơ nên bám dính tốt với nhựa đường vốn hơi axit. Loại gốc silic như granite khó dính và làm mặt đường mau bong. Bột khoáng nên có CaCO₃ trên 90% và ít tạp sét, vì sét làm giảm độ bám và tăng dễ thấm nước.
Ẩm cao làm bột vón, khó chảy khỏi silo và giảm bám dính giữa đá với nhựa. Khi trộn nóng, hơi nước bốc lên tạo bọt và làm nhựa dễ tách khỏi cốt liệu. Sấy đầu vào và bảo quản silo kín là cách kiểm soát chính.
Dây nhỏ và vừa dùng máy kiểu Raymond MTM hoặc máy châu Âu MTW vì suất đầu tư hợp lý, dải 200 - 325 mesh dễ điều chỉnh. Dây lớn từ vài chục tấn mỗi giờ dùng máy nghiền đứng LM vì vừa nghiền vừa sấy, tiết kiệm điện riêng và gọn mặt bằng.